Nghi Thức Phóng Sanh

Nghi Thức Phóng Sanh
Tác giả: 
Thích Nhật Từ
Nhà xuất bản: 
Nhà Xuất Bản Phương Đông
Năm xuất bản: 
2011
Chuyên mục: 
Kinh Tủ Sách Đạo Phật Ngày Nay

MỤC LỤC

Lời nói đầu
1. Nguyện hương
2. Chơn ngôn gia trì
3. Kệ giải nghiệp
4. Quy y và sám hối
5. Kệ phóng sanh
6. Thất Phật diệt tội chơn ngôn
7. Tiêu tai cát tường thần chú
8. Nguyện an lành
9. Hồi hướng công đức
10. Đảnh lễ ba ngôi báu


LỜI NÓI ĐẦU

Nghi thức phóng sanh là sự trải nghiệm lòng từ bi thương vật, trao tặng tự do và sự sống lần thứ hai cho các động vật bị giam cầm. Vì các loài chim cá không hiểu được ngôn ngữ của con người, khi sử dụng nghi thức này, người đọc tụng phải thực tập quán chiếu. 
Kệ giải nghiệp cho các vật bị giam cầm có ý nghĩa đổi đời súc sinh thành con người. Quán tưởng chuyển nghiệp có sức trợ dẫn, nhằm giúp loài bị giam cầm tiêu trừ túc nghiệp. Kệ quy y và sám hối có ý nghĩa to lớn cho sự chuyển nghiệp súc sinh và ba đường khổ nói chung. 
Thông qua sự quán chiếu, chân ngôn diệt tội và thần chú cát tường là một năng lượng hỗ trợ có khả năng giúp loài bị giam cầm chuyển nghiệp chướng để được an vui. 
Để phóng sanh, ban tặng sự sống có kết quả, gia chủ không nên mặc cả mạng sống của chúng với sức khỏe và tuổi thọ của bản thân và gia đình. Thực tập từ bi, bảo vệ tự do và mạng sống sẽ mang lại nhiều kết quả an lạc và như ý cho người thực hiện.
                      Giác Ngộ, 27-4-2011
                      TT. Thích Nhật Từ
          Phó Viện trưởng HVPGVN tại TP.HCM

Tags 
Nghi thức phóng sanh
Tải sách: 
PDF icon Download k16-nghi_thuc_phong_sanh_co_bia.pdf (496.51 KB)

NỘI DUNG

1. NGUYỆN HƯƠNG
(Chủ sám thắp ba cây hương, thành tâm chú nguyện loài hữu tình)

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.  O

Đệ tử chúng con (nêu tên và pháp danh), ngày lành tháng tốt, noi gương đức Phật, học hạnh từ bi, phóng sanh cứu vật. 
Ngưỡng nguyện Tam bảo xót thương gia hộ các loài hữu tình, khi hết kiếp này, sanh làm thân người, gặp được Phật pháp, bỏ tham sân si, tu các hạnh lành, sống trong hạnh phúc. Cầu cho chúng con và các chúng sinh nghiệp chướng tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, bốn mùa khỏe mạnh, thân tâm an lạc, sở nguyện tùy tâm, cát tường như ý.

Nam-mô Tiêu Nghiệp Chướng Bồ-tát.  O

2. CHƠN NGÔN GIA TRÌ

- Án lam xóa hoa.                          (7 lần) O
 - Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.      (3 lần) O
- Án ma ni bát di hồng.                   (3 lần) O

3. KỆ GIẢI NGHIỆP

Do nhiễm đắm ái tham làm gốc,
Nên làm loài thú vật khổ đau.
Thành tâm, sám hối, hồi đầu,
Hiện tiền hết tội, kiếp sau an nhàn.
Nay gặp Phật phước lành tăng trưởng,
Nghe kệ kinh, nghiệp chướng tiêu tan.
Quy y Tam bảo thành tâm,
Nghiệp lồng, lưới, chậu nhẹ nhàng thoát thân.
Loài chở nặng, lầm than bao nỗi,
Giống mang lông, đầu đội sừng dài,
Không còn khổ lụy, nạn tai,
Hưởng bao lợi lạc, tháng ngày bình an. 
Mong thế giới của hàng chim, thú
Loài côn trùng, sâu bọ nhỏ nhoi,
Sống thời mạnh khỏe, được nuôi,
Thác thời hóa kiếp làm người tự do.

Cầu sinh loại trong vòng ba cõi,
Theo đạo vàng, thoát khỏi khổ đau.
Thực hành chánh pháp nhiệm mầu,
Hôm nay hạnh phúc, ngày sau an lành. O
                   Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.    (3 lần) O

4. QUY Y VÀ SÁM HỐI

Quy ngưỡng Phật, bậc phước trí vẹn toàn, giúp hữu tình giải phóng khổ đau. O
Quy ngưỡng Pháp, nguồn tuệ giác từ bi, giúp hữu tình sống trong hạnh phúc.O
Quy ngưỡng Tăng, đoàn thể sống thanh cao, giúp hữu tình tinh tấn chuyển nghiệp.O
Hữu tình đã tạo bao nghiệp ác, 
Đều do nguồn gốc tham, sân, si
Ý, thân, ngôn ngữ dấy hành vi
Hữu tình hồi tâm mong chuyển nghiệp.  O
                   Nam-mô Cầu Sám Hối Bồ-tát.     (3 lần) O

 

5. KỆ PHÓNG SANH

Trời đất tự do cảnh bạt ngàn,
Lưới giăng, bẫy bắt... thảy tiêu tan.
Như Lai phù hộ không thù hận,
Hộ Pháp gia trì mãi mạnh an.
Thú chạy, chim bay về núi thẳm,
Cá bơi, rùa lặn hướng sông nguồn.
Muôn loài hết nghiệp giam cầm khổ,
Hạnh phúc, hòa bình khắp thế gian.
                      Án, linh cảm hồng phấn tra           (3 lần) O

6. THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN

Ly bà ly bà đế. Cầu ha cầu ha đế. Đà ra ni đế. Ni ha ra đế. Tỳ lê nễ đế. Ma ha dà đế. Chơn lăng càn đế, ta bà ha       (3 lần) O

 7. TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ

Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẩm. Á bát ra để, hạ đa xá, ta nẳng nẩm. Ðát điệt tha. Án khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha.      (3 lần) O

Nam mô Tiêu Tai Giáng Cát Tường Bồ tát.     O 

8. NGUYỆN AN LÀNH

Nguyện ngày an lành, đêm an lành,
Đêm ngày sáu thời thường an lành,
Tất cả các thời đều an lành,
               Xin Phật từ bi thường gia hộ.          O
Nguyện ngày an lành, đêm an lành,
Đêm ngày sáu thời thường an lành,
Tất cả các thời đều an lành,
                Cúi xin Tam bảo thường gia hộ.           O
Nguyện ngày an lành, đêm an lành,
Đêm ngày sáu thời thường an lành,
Tất cả các thời đều an lành,
                  Cúi xin Hộ Pháp thường gia hộ.           O
                      Nam-mô Công Đức Lâm Bồ-tát Ma-ha-tát.             O 

 

9. HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

Phóng sanh cứu vật phước tăng,
Xin đem hồi hướng xa gần, khắp nơi.
Nguyện cho tất cả trời người,
Đều vào cõi Phật, sáng ngời chân tâm.    O
Nguyện trừ ba chướng trầm luân,
Sống trong trí tuệ, tịnh thanh cõi lòng.
Nguyện cho tội nghiệp tiêu mòn,
Noi theo Bồ-tát làm tròn tấm gương.    O
Nguyện đem công đức tạo thành,
Hướng về tất cả chúng sanh mọi loài,
Rải ban hạnh phúc muôn nơi,
               Giúp người giác ngộ, an vui đạo mầu.   (3 xá) O

10. ĐẢNH LỄ BA NGÔI BÁU

Hữu tình nương tựa Phật,
Bậc Phước Trí Viên Thành,
Cầu tất cả chúng sanh
                            Giác ngộ, phát tâm lành.              (1 xá) O
Hữu tình nương tựa Pháp,
Nguồn tuệ giác, từ bi,
Cầu tất cả chúng sanh
                             Hiểu đạo, tỏ nguồn tâm.               (1 xá) O
Hữu tình nương tựa Tăng,
Đoàn thể sống an vui,
Cầu tất cả chúng sanh
                       Hòa hợp, thương mến nhau.  (1 xá) OOO

 
00:00